|
Bệnh viêm gan B Là bệnh nhiễm virus do virus viêm gan B gây ra xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới, những khu vực gặp nhiều nhất là Trung Quốc, Đông Nam Á, Châu Phi vùng dưới sa mạc Sahara, hầu hết các đảo của Thái Bình Dương, và vịnh Amazon. Virus được lan truyền qua tất cả các dịch của cơ thể những người bị nhiễm trùng cấp tính hay mạn tính và bởi những người mang bệnh không có triệu chứng, chủ yếu truyền qua đường ngoài ruột, chẳng hạn như truyền máu hoặc dùng chung kim tiêm ở những con nghiện, lây truyền qua đường miệng có thể xảy ra nhưng có hiệu quả thấp, và nó có thể truyền qua những mối tiếp xúc gần gũi của con người, đặc biệt là quan hệ tình dục, và có thể lây truyền dọc từ mẹ sang trẻ mới sinh. Thời kỳ ủ bệnh kéo dài trung bình khoảng 90 ngày, với khoảng giới hạn từ 40 đến 180 ngày, và diễn tiến lâm sàng biến đổi nhiều hơn so với viêm gan siêu vi A. Ở giai đoạn tiền triệu có thể có những triệu chứng như sốt, khó chịu, biếng ăn, buồn nôn, và nôn, và kết thúc với triệu chứng vàng da lâm sàng, nổi mề đay, phù mạch, và hiếm gặp hơn là viêm cầu thận hoặc hội chứng tương tự như bệnh huyết thanh. Hầu hết bệnh nhân có thể phục hồi hoàn toàn và HBSAg âm tính trong 3 đến 4 tháng, nhưng một số người có thể trở thành người lành mang bệnh hoặc tiến triển thành viêm gan hoạt động mạn tính hoặc viêm gan mạn tính. Hoại tử gan (viêm gan đột ngột) là một biến chứng ít gặp. Ở những khu vực dịch tễ của bệnh, người ta thấy có mối liên hệ giữa viêm gan và nhiễm virus, xơ gan, carcinoma tế bào gan nguyên phát, với loại cuối cùng trở thành một trong những loại ung thư thường gặp nhất. Trước đây có tên là inoculation h., long-incubation h., MS-2 h., serum h., and homologous serum h. hoặc jaundice.
|